Top 10 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận của Việt Nam

17-05-2021 10 33169 1 1

Báo lỗi

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với xã hội hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của xã hội, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và những hình thức khác. Việt Nam là vương quốc có rất nhiều di sản văn hoá được công nhận là Di sản văn hoá toàn cầu. tiếp trong tương lai, Toplist sẽ điểm qua những di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận của Việt Nam.

12345678910

1


Miu Lee

Nhã nhạc cung đình Huế

Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào những dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, những lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của những triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, “trong những thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc vương quốc”. “Nhã nhạc đã được phát triển từ thế kỷ 13 ở Việt Nam đến thời nhà Nguyễn thì Nhã nhạc cung đình Huế đạt độ chín muồi và hoàn chỉnh nhất”. Cùng với không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, đây là di sản phi vật thể của Việt Nam đã được UNESCO chính thức ghi danh.

Nhã nhạc Cung Đình Huế là một sự kế thừa,kể từ khi những dàn nhạc – Trong số đó có mặt nhiều nhạc khí cung đình – xuất hiện dưới dạng tác phẩm chạm nổi trên những bệ đá kê cột chùa thời Lý, thế kỉ XI – XII, đến lúc ông vua sau cùng triều Nguyễn thoái vị vào giữa thế kỷ XX. Về cơ bản, nhạc nghi thức trong âm nhạc cung đình Việt Nam, nhạc tế trong những đình làng cũng như loại nhạc nghi thức được chơi trong đám cưới hay đám tang, toàn bộ thường được chia thành hai nhóm chính: nhóm phe văn và nhóm phe võ. Việc phân chia của những nhóm nhạc cụ hòa tấu trong dàn nhạc cung đình ở Huế từ đầu thế kỷ XIX và nguồn gốc của nó đã được tìm thấy trong những quy luật của nhiều nghi thức cúng đình tại những làng xã của người Việt ở Bắc Bộ từ nhiều thế kỷ trước đây.

Nhã nhạc cung đình Huế - Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại
Nhã nhạc cung đình Huế – Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại
Tuyển tập nhã nhạc cung đình Huế hay nhất của Việt Nam


2


Miu Lee

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là “kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại” vào trong ngày 15 tháng 11 năm 2005. Năm 2008, không gian văn hóa cồng chiêng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của toàn cầu. Sau Nhã nhạc cung đình Huế, đây là di sản thứ hai của Việt Nam được nhận hai danh hiệu này. Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên gồm có những yếu tố bộ phận sau: Cồng chiêng, những bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, những lễ hội có sử dụng cồng chiêng (Lễ mừng lúa mới, Lễ cúng Bến nước…), những địa điểm tổ chức những lễ hội đó (nhà dài, nhà rông, rẫy, bến nước, nhà mồ, những vùng rừng núi cạnh những buôn làng Tây Nguyên…).


Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng. Chủ nhân của di sản văn hóa quý giá và đặc sắc này là 17 dân tộc thiểu. Hiện tại ở Tây Nguyên, lễ hội cồng chiêng được tổ chức hàng năm để gìn giữ và phát huy một cách tốt nhất giá trị của di sản này. Ở những vùng có cồng chiêng như ở Tây nguyên, Lễ hội Cồng chiêng được tổ chức hàng năm là một hoạt động vừa có ý nghĩa sâu sắc bảo tồn bản sắc văn hóa vừa là một sản phẩm du lịch ăn khách. Hiện nay, không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên đang được quan tâm giữ gìn và phát huy giá trị của một Di sản văn hoá.

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là “kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại”
Phim tài liệu về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

3


Miu Lee

Dân ca Quan họ

Dân ca Quan họ là một trong số những làn điệu dân ca phổ biến của vùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc việt nam. Nó được hình thành ở vùng Kinh Bắc xưa, đặc biệt là khu vực ranh giới hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh ngày nay. Kinh Bắc xưa là một tỉnh cũ gồm có 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Tuy nhiên hiện nay người ta nhắc đến quan họ Bắc Ninh nhiều hơn thế là ở Bắc Giang. Dân ca quan họ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2009 sau nhã nhạc cung đình Huế và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.


Quan họ nổi trội bởi thể hiện được “cái tình” của người hát, những làn điệu quan họ thường gắn liền với những liền anh, liền chị, tiêu biểu như những bài: Hừ La, La rằng, Tình tang, Bạn kim lan, Cái ả, Cây gạo… Trang phục của những liền anh, liền chị cũng khá đặc biệt và mang đậm bản sắc dân tộc Việt. Liền anh mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối trong những lúc hình ảnh của liền chị lại gắn liền với “áo mớ ba mớ bảy”, tức là liền chị hoàn toàn có thể mặc ba áo dài lồng vào nhau (mớ ba) hoặc bảy áo dài lồng vào nhau (mớ bảy) cùng chiếc nón quai thao. Quan họ còn gắn với lối ứng xử chân tình, khéo léo, là làn điệu mời nước, mời trầu thật chân tình, nồng thắm.

Dân ca Quan họ là một trong số những làn điệu dân ca phổ biến của vùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc nước ta
Dân ca Quan họ là một trong số những làn điệu dân ca phổ biến của vùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc việt nam
Làn điệu: Người ở đừng về

4


Miu Lee

Ca trù

Ca trù là một loại hình diễn xướng bằng âm giai rất thịnh hành tại khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam. Năm 2009, ca trù đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Khác với quan họ, ca trù là dạng nghệ thuật biểu diễn dùng nhiều thể văn chương như thể phú, thể truyện, thể ngâm, nhưng thể văn chương phổ biến nhất là hát nói. Một câu hát ca trù cần phải có 3 phần chính: thứ nhất “đào” hay “ca nương” sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp, tiếp theo “kép” chơi đàn đáy phụ họa theo tiếng hát, sau cùng “quan viên” đánh trống chầu chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống. Đến nay, ca trù bị mai một nhiều, giới trẻ có vẻ như đang quay lưng một cách hoàn toàn với loại hình này.

Xuất hiện sơ khai vào đầu thế kỷ 11, bắt đầu thịnh hành trong nước từ thế kỷ 15 nhưng đến nửa cuối thế kỷ 20, Ca Trù Việt Nam mới được toàn cầu biết đến lần thứ nhất qua tiếng hát của nghệ nhân Quách Thị Hồ (1909 – 2001). Dần dần sau đó, Ca Trù Việt Nam còn được nhiều nhạc sĩ, nhạc học gia quốc tế theo học, tìm hiểu, nghiên cứu và giới thiệu tại nhiều trường ĐH nổi tiếng trên toàn cầu. Trải qua quy trình phát triển thăng trầm cùng với những biến cố của lịch sử, cho tới nay, Ca Trù Việt Nam đã đạt đến trình độ thẩm mỹ cao, khẳng định được vị trí quan trọng không chỉ là của Việt Nam mà còn của cả nhân loại. Ca Trù Việt Nam là dạng nghệ thuật biểu diễn dùng nhiều thể văn chương như: phú, truyện, ngâm, nhưng thể văn chương phổ biến nhất là hát nói và hát kể. Hát nói xuất hiện sớm nhưng phải đợi đến đầu thế kỷ 19 mới có những tác phẩm lưu truyền đến nay như những tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…

Ca trù là một loại hình diễn xướng bằng âm giai rất thịnh hành tại khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam.
Ca trù là một loại hình diễn xướng bằng âm giai rất thịnh hành tại khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam.

5


Miu Lee

Hội Gióng tại đền Phù Đổng và đền Sóc, TP Hà Nội

Hội Gióng hàng năm được tổ chức ở nhiều nơi thuộc TP Hà Nội để tưởng nhớ anh hùng Thánh Gióng, hình tượng bất tử trong lòng người dân Việt. Sau ca trù, năm 2010, Hội Gióng tại đền Phù Đổng và đền Sóc vinh hạnh được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại. Hội Gióng Phù Đổng chính thống được tổ chức hàng năm vào hai ngày mùng 8 và mùng 9 tháng tư âm lịch tại xã Phù Đổng, huỵện Gia Lâm, thành phố TP Hà Nội, nơi sinh ra người anh hùng huyền thoại “Phù Đổng Thiên Vương”, trong lễ hội người ta mô phỏng rõ một cách sinh động và khoa học diễn biến những trận đấu của thánh Gióng và nhân dân Văn Lang với giặc Ân. Đây là lễ hội có giá trị văn hóa, lịch sử, giá trị giáo dục lớn đối với thế hệ trẻ.

Lễ hội Thánh Gióng được tổ chức hàng năm tại làng Gióng, một làng Việt cổ nay thuộc địa phận của bốn làng Phù Đổng, Phù Dực, Đổng Viên, Đổng Xuyên của xã Phù Đổng (huyện Gia Lâm, TP Hà Nội). Đây là một trong những hội lễ lớn nhất ở đồng bằng Bắc bộ, một diễn trường lịch sử – văn hoá, diễn lại sự tích Thánh Gióng đánh thắng giặc Ân. Trong lễ hội sẽ có những màn diễn xướng độc đáo thể hiện tinh thần đoàn kết, ý chí quật cường của dân tộc, tôn vinh vị anh hùng dân tộc Thánh Gióng. Lễ hội Thánh Gióng được cử hành trên một diễn trường rộng lớn dài khoảng 3 km gồm đền Thượng, đền Mẫu (thờ mẹ Gióng) và chùa Kiến Sơ.

Lễ hội Thánh Gióng
Lễ hội Thánh Gióng
Phim tài liệu: Lễ hội Gióng tại đền Phủ Đồng và đền Sóc

6


Miu Lee

Hát xoan

Hát xoan là loại hình dân ca lễ nghi phong tục hát thờ thần, thành hoàng với hình thức nghệ thuật đa yếu tố: có nhạc, hát, múa; thường được biểu diễn vào dịp đầu xuân, phổ biến ở vùng đất tổ Hùng Vương – Phú Thọ, một tỉnh thuộc vùng trung du Việt Nam. Ngày 24/11/2011, hồ sơ Hát Xoan – Phú Thọ của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. những phường hát xoan thường diễn xướng vào mùa xuân tại những đình, miếu làng, đến mùng 5 Tết thường hát ở hội đền Hùng. Hiện nay, tỉnh Phú Thọ đang ra sức gìn giữ di sản văn hóa này bằng phương pháp mở những lớp học dạy hát xoan, tôn tạo lại những di tích miếu, đình, nơi hát xoan được tổ chức.

Nguồn gốc của Hát Xoan có nhiều cách giải thích bằng huyền thoại được đặt vào thời những Vua Hùng dựng nước. Có chuyện kể rằng Vua Hùng đi tìm đất đóng đô, một hôm nghỉ chân ở nơi này là quê Xoan Phù Đức – An Thái, thấy những trẻ chăn trâu hát múa, vua rất ưa thích và lại dạy thêm nhiều điệu khúc nữa, những điệu hát múa ấy của Vua Hùng và những em chăn trâu, đó cũng là những điệu Xoan tiên. Lại có mẩu truyện kể rằng, vợ Vua Hùng đau bụng đã lâu ngày mà vẫn không sinh nở, một nàng hầu gái nói nên đón nàng Quế Hoa múa đẹp hát hay đến múa hát. Quế Hoa được gọi đến trước giường, uốn tay đưa chân, dáng như tiên, giọng như suối, sắc như hoa… Vợ Vua Hùng xem múa nghe hát quả nhiên vui vẻ sinh ra được 3 người con trai tuấn tú khác thường. Vua Hùng rất vui mừng, truyền cho những công chúa trong cung nữ đều học những điệu múa hát của Quế Hoa. Lúc đó vào mùa xuân nên vua đặt tên những điệu múa hát đó là Hát Xuân.

Hát Xoan - Phú Thọ của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại
Hát Xoan – Phú Thọ của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại
Mời rượu

7


Miu Lee

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một loại hình tín ngưỡng dân gian được lưu truyền nhiều năm ở Việt Nam, chủ yếu được triển khai ở những di tích thờ những nhân vật liên quan đến thời Hùng Vương tiêu biểu như Thần Nông, Vua Hùng, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Sơn Tinh, Cao Sơn, Quý Minh. Loại tín ngưỡng này đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể vương quốc (đợt 1) và UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ngày 6 tháng 12 năm 2012, tại kỳ họp lần thứ 7 Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể đang ra mắt ở Paris (Pháp), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã chính thức trải qua quyết định ghi danh Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không phải một tôn giáo mà đúng là biểu trưng của lòng thành kính, sự biết ơn- tri ân công đức những Vua Hùng là những người có công dựng nước Văn Lang. Hiện tại theo kiểm kê của Sở VH,TTvàamp;DL Phú Thọ, trên địa bàn tỉnh có 326 di tích thờ Hùng Vương và những nhân vật liên quan đến thời đại Hùng Vương trải rộng khắp những địa phương trên địa bàn toàn tỉnh. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được phủ rộng với mật độ dày đặc ở toàn bộ những làng xã, song Đền Hùng là trung tâm thực hành Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương lớn nhất và nhiều năm nhất trong quy trình phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Lễ hội đền Hùng cùng với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương

8


Miu Lee

Đờn ca tài tử Nam Bộ

Đờn ca tài tử Nam bộ là dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể và là một danh hiệu UNESCO ở Việt Nam có vùng tác động lớn, với phạm vi 21 tỉnh thành phía Nam. Đờn ca tài xử tử thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19, bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian. Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ. Đây là loại hình nghệ thuật của đàn và ca, do những người dân dã, thanh niên nam nữ nông thôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động. Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm bốn loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt), sau này, có cách tân bằng phương pháp thay thế độc huyền ầm bằng cây guitar phím lõm. Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bè bạn, chòm xóm với nhau. Họ triệu tập lại để cùng san sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về trang phục…

Loại âm nhạc này đúng ra là loại nhạc thính phòng thường trình diễn trong phạm vi không gian tương đối nhỏ như trong gia đình, tại đám cưới, đám giỗ, sinh nhật, trong những lễ hội, sau khi thu hoạch mùa vụ, thường được biểu diễn vào những đêm trăng sáng ở xóm làng. Nguồn gốc của nhạc tài tử là ca Huế, pha lẫn âm nhạc từ những tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi. Loại nhạc này mang đậm tính cách giải trí vui chơi chứ không thuộc loại nhạc lễ. Nghệ thuật Đờn ca tài tử hiện đang được phát triển ở 21 tỉnh, thành phố phía Nam Việt Nam là: An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, Bà Rịa – Vũng Tàu, BD, Bình Phước, Bình Thuận, TP. Đồng Nai, Đồng Tháp, TP. Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Tây Ninh. Trong số đó, Bạc Liêu, BD, Tiền Giang và Tp HCM là những tỉnh, thành phố có nhiều người hát đờn ca tài tử nhất.

Đờn ca tài tử Nam bộ
Đờn ca tài tử Nam bộ
Đờn ca tài tử Nam bộ

9


Miu Lee

Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

Dân ca giặm Nghệ Tĩnh là một loại hình nghệ thuật trình diễn dân ca chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân 2 tỉnh thành phố Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh thuộc miền Trung Việt Nam. Dân ca ví giặm tại Nghệ Tĩnh là một di sản văn hóa phi vật thể cấp vương quốc đã được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại tại kỳ họp thứ 9 của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ngày 27/11/2014 tại Paris. Loại hình nghệ thuật này phổ biến trong đời sống của những xã hội xứ Nghệ, được hát trong hầu hết mọi hoạt động đời thường, từ ru con, dệt vải, trồng lúa… Lời ca của dân ca ví, giặm ca tụng những giá trị sâu sắc và truyền thống như sự tôn trọng với những bậc cha mẹ, lòng chung thủy, tận tụy vì người khác cũng như ngợi ca đức tính thật thà và cách cư xử tử tế giữa con người với con người.

Hát ví thường là hát tự do, không tồn tại tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát hoàn toàn có thể giãn nở một cách ngẫu hứng. Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tuỳ thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, ít từ hay nhiều từ. Ví thuộc thể ngâm vĩnh, bằng phương pháp phổ thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể…). Tính biểu cảm của hát ví tuỳ vào môi trường hoàn cảnh, không gian thời gian và tâm tính của người hát. Âm vực của ví thường không quá một quãng 8. Tình điệu ví nghe trang trải mênh mang sâu lắng, bâng khuâng xao xuyến, tha thiết ân tình. Tuy thế, vẫn có loại ví ghẹo và ví mục đồng nghe dí dỏm hài hước, nghịch ngợm hồn nhiên tươi trẻ. Hát ví hát giao duyên nam nữ được phổ biến vùng Nghệ Tĩnh, những thể kỷ trước dùng để trao đổi tình cảm giữa đôi trai gái. Vào những đêm trăng sáng thường đi ngắm trăng. Hát theo lối tường thuật ngẫu hứng một mẩu truyện nào đó trong quy trình lao động và nông nhàn, trong lối sống thường nhật lâu dần được dân gian hóa.

Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh
Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh
Hát phường vải

10


Nguyễn Bích Lộc

Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt

Ngày 01 tháng 12 năm 2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO ra mắt tại thành phố Addis Ababa, nước Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ là một hình thức thờ cúng người Mẹ hóa thân ở những miền trời, sông nước, rừng núi được hình thành trên nền tảng của tín ngưỡng thờ Nữ thần. Người dân thờ cúng Thánh Mẫu Liễu Hạnh cùng với những vị Thánh Mẫu cai trị miền trời, rừng, nước, những nhân vật lịch sử hoặc huyền thoại có công với nước, với dân. Theo thư tịch và huyền thoại, bà là tiên nữ giáng trần, làm người, rồi qui y Phật giáo, được tôn vinh là “Mẫu nghi thiên hạ”, một trong bốn vị thánh bất tử của người Việt. Từ thế kỷ XVI, tín ngưỡng này trở thành một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có tác động sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân, đáp ứng nhu cầu và khát vọng của đời sống con người.


Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu tam phủ của người Việt phân bố ở nhiều địa phương: tây-bắc, Đông Bắc, Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, TP.HCM, lan tỏa và được thực hành ở nhiều địa phương trong toàn quốc. Tỉnh Nam Định được coi là một trong những địa phương có những trung tâm thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh tiêu biểu với những nơi lưu giữ sự tích về sự giáng thế của Mẫu như Phủ Dầy, Phủ Nấp và gần 400 nơi thờ cúng thánh Mẫu. Chủ thể di sản là thủ nhang, thầy cúng, thanh đồng, hầu dâng, cung văn, con nhang đệ tử cùng với xã hội cư dân có chung một niềm tin vào quyền năng, sức mạnh tối linh, sự bảo trợ của những Mẫu, đứng đầu là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, gắn bó với nhau thành bản hội, cùng nhau thực hành nghi lễ thờ cúng, tham gia lễ hội, lên đồng tại những phủ, điện Thờ Mẫu.

Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu tam phủ của người Việt
Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu tam phủ của người Việt
Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu tam phủ của người Việt

Từ khóa: Top 10 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận của Việt Nam, Top 10 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận của Việt Nam, Top 10 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận của Việt Nam

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *